Rất nhiều người cho rằng nhạc thính phòng là một loại nhạc cổ biến của nước Mỹ, thực hư nhạc thính phòng là gì, lịch sự phát triển của nó như thế nào rất ít người biết đến.

Nhạc thính phòng là gì?

Nhạc thính phòng là một hình thức của nhạc cổ điển được sáng tác cho một nhóm nhạc cụ nhỏ theo truyền thống biểu diễn trong thính phòng. Phòng để biểu diễn nhạc thính phòng cần phải rộng rãi, đảm bảo đủ người biểu diễn và thính giả nghe.

Vì bản chất gần gũi, nhạc thính phòng đã được mô tả là “âm nhạc của bạn bè”. Trong hơn 100 năm, nhạc thính phòng được chơi chủ yếu bởi các nhạc sĩ nghiệp dư, khi buổi biểu diễn nhạc thính phòng đã di chuyển từ nhà đến phòng hòa nhạc, nhiều nhạc sĩ, nghiệp dư và chuyên nghiệp, vẫn chơi nhạc thính phòng cho niềm vui riêng của họ. Chơi nhạc thính phòng đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt, cả âm nhạc và xã hội, khác với các kỹ năng cần thiết để chơi các tác phẩm độc tấu hoặc giao hưởng.

Johann Wolfgang von Goethe đã mô tả nhạc thính phòng (cụ thể là nhạc tứ tấu đàn dây) là “bốn người cùng biểu diễn cùng lúc”. Mô hình này đề cập đến cách một nhạc cụ giới thiệu giai điệu và sau đó các nhạc cụ khác “đáp ứng” với một mô típ tương tự – đã là một chủ đề xuyên suốt lịch sử sáng tác nhạc thính phòng từ cuối ngày 18 thế kỷ đến nay.

Lịch sử phát triển nhạc thính phòng

Thời kỳ đầu: Trong thời trung cổ và đầu Phục hưng, các nhạc cụ được sử dụng chủ yếu làm nhạc đệm cho các ca sĩ. Người chơi đàn dây sẽ chơi cùng với giai điệu được hát bởi ca sĩ. Cũng có những bản hòa tấu nhạc cụ thuần túy, thường là tiền thân có dây của gia đình violin, được gọi là phối ngẫu.

Một số nhà phân tích coi nguồn gốc của các nhạc thính phòng là những tác phẩm dành cho một đến năm nhạc cụ trở lên.

Trong thời kỳ Baroque, nhạc thính phòng như một thể loại không được xác định rõ ràng. Thông thường, các tác phẩm có thể được chơi trên bất kỳ loại nhạc cụ nào, trong các dàn nhạc giao hưởng hoặc thính phòng.

Ví dụ, The Art of Fugue của Johann Sebastian Bach, có thể được chơi trên một nhạc cụ bàn phím (harpsichord hoặc organ) hoặc bởi một bộ tứ dây hoặc một dàn nhạc dây. Các thiết bị của bộ ba sonatas cũng thường được chỉ định linh hoạt; một số bản sonata của Handel được ghi cho violin. Các dòng bass có thể được chơi bằng violone, cello, theorybo hoặc bassoonvà đôi khi ba hoặc bốn nhạc cụ sẽ cùng tham gia vào dòng nhạc này.

Nhạc thính phòng Baroque thường là ngẫu nhiên; nghĩa là, mỗi nhạc cụ chơi các chất liệu giai điệu giống nhau ở các thời điểm khác nhau, tạo ra một loại vải phức tạp, đan xen của âm thanh. Bởi vì mỗi nhạc cụ đã chơi về cơ bản cùng một giai điệu, tất cả các nhạc cụ đều như nhau. Trong bộ ba sonata, thường không có nhạc cụ tăng hoặc độc tấu, nhưng cả ba nhạc cụ đều có tầm quan trọng như nhau.

Vào nửa sau của thế kỷ 18: thị hiếu bắt đầu thay đổi: nhiều nhà soạn nhạc thích phong cách Galant mới, nhẹ hơn với kết cấu mỏng hơn, … và giai điệu và âm trầm với sự phức tạp của điểm đối lập. Bây giờ một phát sinh tùy chỉnh mới đã sinh ra một hình thức mới của nhạc thính phòng: serenade. Những người bảo trợ đã mời các nhạc sĩ đường phố chơi buổi hòa nhạc buổi tối bên dưới ban công nhà của họ.

Thời kỳ Beethoven: Ludwig van Beethoven đã vượt qua giai đoạn thay đổi này như một người khổng lồ của âm nhạc phương Tây. Beethoven đã biến đổi nhạc thính phòng, nâng nó lên một tầm cao mới, cả về nội dung và về nhu cầu kỹ thuật đối với người biểu diễn và khán giả. Các tác phẩm của ông, theo lời của Maynard Solomon, là “những mô hình chống lại chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ XIX đã đo lường những thành tựu và thất bại của nó”. Bộ tứ quá cố của ông, đặc biệt được coi là một thành tựu đáng sợ đến nỗi nhiều nhà soạn nhạc sau ông đã sợ thử sáng tác tứ tấu; Johannes Brahms đã sáng tác và xé 20 bộ tứ dây trước khi ông dám xuất bản một tác phẩm mà ông cảm thấy xứng đáng với “cuộc diễu hành khổng lồ phía sau”.

Beethoven đã ra mắt chính thức với tư cách là nhà soạn nhạc với ba Piano Trios, Op. 1. Ngay cả những tác phẩm đầu tiên này, được viết khi Beethoven chỉ mới 22 tuổi, trong khi tuân thủ một khuôn mẫu cổ điển nghiêm ngặt, đã cho thấy dấu hiệu của những con đường mới mà Beethoven sẽ rèn trong những năm tới. Khi ông đưa bản thảo của bộ ba cho Haydn, giáo viên của ông, trước khi xuất bản, Haydn đã chấp thuận hai bản đầu tiên. Haydn đã sai, bộ ba thứ ba là người nổi tiếng nhất trong bộ này, và những lời chỉ trích của Haydn đã gây ra sự bất hòa giữa anh ta và Beethoven.

Beethoven đã viết tám bộ ba piano, năm bộ ba dây, hai bộ dây và nhiều bản nhạc để hòa tấu gió. Ông cũng đã viết mười bản sonata cho violin và piano và năm bản sonata cho cello và piano.

Thế kỷ 21:  Chính Julian Brahms là người mang ngọn đuốc âm nhạc lãng mạn đến thế kỷ 20. Được báo trước bởi Robert Schumann là người giả mạo “những con đường mới” trong âm nhạc, Âm nhạc của Brahms là một cầu nối từ cổ điển đến hiện đại. Một mặt, Brahms là một người theo chủ nghĩa truyền thống, bảo tồn truyền thống âm nhạc của Bach và Mozart. Xuyên suốt âm nhạc thính phòng của mình, anh sử dụng các kỹ thuật đối lập truyền thống kết hợp với kết cấu đàm thoại và hài hòa phong phú. Mặt khác, Brahms đã mở rộng cấu trúc và vốn từ vựng hài hòa của nhạc thính phòng, thách thức các quan niệm truyền thống về âm điệu.

Nhạc thính phòng là cảm hứng của nhiều cuốn sách, nhiều tác phẩm nghệ thuật, thể loại nhạc này đã vượt qua rất nhiều thế kỷ để phát triển được như thời điểm hiện tại.

babil.info – âm nhạc

Nhạc thính phòng là gì? Lịch sử phát triển nhạc thính phòng
Rate this post